![]() |
Khởi kiện vụ án dân sự |
"Vô
phúc đáo tụng đình" đó là câu nói quen thuộc của người xưa và cho đến giờ
thì theo tôi vẫn còn nguyên giá trị. Những ai đã một lần "đáo tụng
đình" thì càng hiểu và thấm nhuần giá trị câu nói đó. Ngày nay, với sự
phát triển vượt bậc của nền kinh tế và những chuyển biến của xã hội, những quan
hệ xã hội ngày càng phức tạp và luôn tiềm ẩn những rủi ro, tranh chấp... Mỗi ai
trong chúng ta cũng đều có thể có ít nhất một lần phải "đáo tụng
đình" để giải quyết những vấn đề phát sinh trong cuộc sống của mình. Nhằm
trang bị cho đọc giả của blog Pháp
luật cho mọi người có được
những thông tin hữu ích về pháp luật, trong phạm vi bài viết này tác giả xin
chia sẻ với quý vị đọc giả những điều cơ bản nhất khi chuẩn bị khởi kiện một
vụ án Dân sự theo nghĩa rộng (Dân sự thuần túy; Hôn nhân gia đình; Kinh doanh
thương mại; Lao động).
Để khởi
kiện một vụ án dân sự nói chung thì người khởi kiện cần phải xác định được
những vấn đề sau:
1. Điều kiện khởi kiện
1.1.
Quyền khởi kiện
Nói đến
điều kiện khởi kiện thì điều đầu tiên cần nhắc đến là quyền khởi kiện. Quyền khởi kiện được chia ra
cho hai nhóm:
Nhóm thứ nhất là khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của chính
mình, được quy định tại Điều 163 Bộ luật tố tụng Dân sự, theo đó khi cá nhân,
cơ quan, tổ chức nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì
có quyền khởi kiện để bảo vệ.
Nhóm thứ hai, là khởi
kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, được quy định tại Điều
164[1] Bộ luật tố tụng Dân sự, trong phạm vi bài
viết này tác giả chỉ đề cập tới nhóm thứ nhất, không đề cập đến nhóm thứ hai.
Tóm lại, đối với Quyền
khởi kiện thì điều cơ bản nhất người khởi kiện cần biết đó là khi quyền và lợi
ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tự mình
hoặc thông qua người khác để khởi kiện.
Ví dụ: Ngày 05/10/2012
ông A cho ông B vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, hợp đồng không đề
cập đến mục đích vay tiền. Như vậy trong trường hợp này ông A chỉ có quyền khởi
kiện ông B khi hết thời hạn vay theo thỏa thuận (sau ngày 06/10/2013), còn
trong thời hạn vay thì ông A không có quyền khởi kiện hay nói cách khác là chưa
đủ điều kiện để khởi kiện ông B.
Một điều xin quý đọc giả
lưu ý là: Khái niệm quyền khởi kiện không
đồng nghĩa với thắng kiện, việc thắng kiện hay không không thì cần
phải thông qua quá trình giải quyết và khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực
của Tòa án mới xác định được, còn quyền khởi kiện chỉ là điều kiện ban đầu để
khởi kiện.
1.2 Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Năng lực hành vi tố tụng
dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy
quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.
Về năng lực hành vi tham
gia tố tụng thì có thể chia thành hai nhóm:
Đối với cơ quan, tổ chức: Người đại diện theo pháp luật là người có đầy đủ năng lực hành
vi tố tụng, người đại diện theo pháp luật có thể ủy quyền cho người khác có đủ
điều kiện để tham gia tố tụng.
Đối với cá nhân: Tùy vào độ tuổi và thể chất thì pháp luật chia ra các trường
hợp sau:
Người từ đủ 18 tuổi trở
lên là người có đầy đủ năng lực lực hành vi tố tụng dân sự trừ những người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi
dân sự hoặc trường hợp khác do pháp luật quy định.
Người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ tại Tòa án do người đại diện theo pháp luật thực hiện.
Người tử đủ 15 tuổi -
chưa đủ 18 tuổi, nếu đã tham gia hợp
đồng lao động hoặc thực hiện các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình
thì có thể tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự. Những quan hệ khác thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ của họ do người đại diện
theo pháp luật thực hiện.
Trường hợp cá biệt: Đối với nữ giới từ 18 tuổi cho đến dưới 18 tuổi (từ 17 tuổi + 1
ngày - 17 tuổi 364 ngày) nếu đã kết hôn mà có yêu cầu ly hôn trong thời gian
này thì có quyền tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng
trong quan hệ hôn nhân.
1.3 Thủ tục tiền tố tụng
"Tiền tố tụng"
không phải là một thuật ngữ pháp lý mà chỉ là một thuật ngữ trong khoa học pháp
lý, có thể hiểu nôm na là những công việc phải thực hiện trước khi khởi kiện.
Đa số các tranh chấp
trong vụ án dân sự thì không phải thực hiện thủ tục tiền tố tụng chỉ trừ một số
ít quan hệ tranh chấp là phải thực hiện thủ tục tiền tố tụng, trong bài viết
này tác giả xin chia sẻ hai trường hợp cần thiết phải thực hiện thủ tục tố
tụng:
Trường hợp 1: Tranh chấp
chấp quyền sử đất.
Theo quy định tại Khoản
6 Điều 4 Luật Đất đai 2003 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Theo quy định tại Khoản
2 Điều 135[2] Luật Đất đai 2003 thì tranh chấp đất
đai phải thông qua hòa giải tại UBND cấp xã, vì vậy khi có tranh chấp đất đai,
người khởi kiện cần phải thực hiện thủ tục hòa giải mới đủ điều kiện để khởi
kiện.
Trường hợp 2: Tranh chấp
lao động.
Theo quy định tại khoản
1 Điều 202 Bộ luật Lao động năm 2012 thì tranh chấp về lao động phải thông qua
thủ tục hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện, trừ một số trường hợp được quy định
tại các điểm a, b, c, d, đ Khoản Điều 202[3] thì
không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải.
Thông thường những tranh
chấp lao động thường có nhiều quan hệ tranh chấp cùng một lúc, trong đó thường
có tranh chấp về tiền lương, đây là quan hệ tranh chấp cần phải thực hiện việc
hòa giải cơ sở, vì vậy nếu người khởi kiện, khởi kiện cùng một lúc nhiều quan
hệ trong vụ án lao động nhưng trong đó có quan hệ cần phải được hòa giải tại cơ
sở thì cần phải thực hiện việc hòa giải trước khi khởi kiện.
Một số lưu ý:
Theo quy định tại Điều 86[4] Luật Hôn
nhân và gia đình thì điều kiện khởi kiện vụ án ly hôn không bắt buộc phải có
thủ tục hòa giải cơ sở nhưng hiện này có rất nhiều Tòa án khi thụ lý vụ án ly
hôn lại yêu cầu người kiện phải thực hiện việc hòa giải, trước khi khởi kiện.
Vì vậy khi khởi kiện vụ án ly hôn thì người khởi kiện cần phải tìm hiểm thêm
"lệ" của Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Tranh chấp liên quan đến
quyền sử dụng đất như tranh chấp về hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, cho
thuê…quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản
chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất (chỉ trừ trưởng hợp vợ chồng ly hôn mà
có tranh chấp về quyền sử dụng đất) … thì trước đây (trước ngày 01/7/2013) tất
cả phải hòa giải tại UBND cấp xã mới đủ điều kiện để khởi kiện. Tuy nhiên kể từ
ngày 01/7/2013, ngày Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP có hiệu lực pháp luật thì những
tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất không phải hòa giải tại UBND cấp xã
vẫn đủ điều kiện khởi kiện.
2. Thời hiệu khởi
kiện
2.1 Khái niệm
Để hiểu khái niệm về
thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì trước hết cần phải biết về khái niệm thời
hiệu.
Theo quy định tại Điều
154 Bộ luật Dân sự thì "Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi
kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa
vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc
dân sự"
Thời hiệu khởi kiện vụ
án dân sự là thời hạn mà chủ thể
được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác[5].
2.2 Thời hiệu và cách
tính thời hiệu[6]
Thời hiệu đối với các vụ
án dân sự có thể chia làm hai loại:
2.2.1 Áp dụng thời hiệu
khởi kiện:
Đối với tranh chấp dân
sự mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng
thời hiệu khởi kiện được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đó.( thường
gồm các mốc: 01 năm; 02 năm; 03 năm; 10 năm ..)
Ví dụ 1: Đối với tranh
chấp về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thì theo quy định tại Điều 30 của Luật
Kinh doanh bảo hiểm, thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ
thời điểm phát sinh tranh chấp;
Ví dụ 2: Đối với các
tranh chấp lao động cá nhân thì theo quy định tại khoản 2 Điều 202 của Bộ luật
lao động, thời hiệu khởi kiện về tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ
ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp
pháp của mình bị vi phạm
Ví dụ 3: Đối với tranh
chấp về chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền
thừa kế của người khác thì theo quy định tại Điều 645 của Bộ luật dân sự năm
2005 thì thời hiệu khởi kiện là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
2.2.2. Không áp dụng thời hiệu
- Tranh chấp về quyền sở
hữu tài sản là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó;
Ví dụ: Tranh chấp ai có
quyền sở hữu nhà ở; nếu có khởi kiện thì Tòa án thụ lý vụ án; việc chấp nhận
hay không phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
- Tranh chấp về đòi lại
tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền
sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu
tài sản đó;
Ví dụ: Ngôi nhà thuộc
quyền sở hữu của A nhưng do B đang quản lý; A có tài liệu chứng minh ngôi nhà
thuộc quyền sở hữu của A và khởi kiện đòi nhà thì Tòa án thụ lý; việc chấp nhận
hay không phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
- Tranh chấp về quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là tranh chấp ai có quyền sử
dụng đất đó.
- Tranh chấp về yêu cầu
hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước;
- Tranh chấp về yêu cầu
bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm;
2.2.3 Cách tính thời
hiệu
+) Thời điểm bắt
đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và
được xác định như sau:
- Đối với nghĩa vụ
dân sự mà các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định thời hạn thực hiện,
nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết hạn thực
hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm;
- Đối với nghĩa vụ
dân sự mà các bên không thoả thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực
hiện, nhưng theo quy định của pháp luật các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết
trước trong một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo đó bên có
nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngày xảy
ra xâm phạm;
- Trường hợp khi
hết hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thoả thuận kéo dài thời hạn thực
hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
căn cứ vào ngày chấm dứt thoả thuận của các bên và được thực hiện như hướng dẫn
tại điểm a và điểm b khoản 5 Điều này;
- Trong quá trình
thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, thì ngày vi phạm
nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Nếu một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phương đình chỉ hợp đồng
là ngày bị xâm phạm.
- Đối với trường
hợp đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tài sản, sức khoẻ, tính
mạng,..., thì ngày xảy ra hành vi xâm phạm tài sản, sức khoẻ, tính mạng,... là
ngày bị xâm phạm.
- Trong một quan
hệ pháp luật hoặc trong một giao dịch dân sự, nếu hành vi xâm phạm xảy ra ở
nhiều thời điểm khác nhau, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính
kể từ thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm cuối cùng.
+) Thời gian
không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian phát sinh
những sự kiện sau đây:
- Sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu
không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là
sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc
phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.Trở
ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho
người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự
của mình;
- Chưa có người đại diện
trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành
niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Chưa có người đại diện
khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được
trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;
+) Thời hiệu
khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
- Bên có nghĩa vụ
đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Bên có nghĩa vụ
thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Các bên đã tự
hoà giải với nhau.
Thời hiệu khởi kiện vụ
án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện nêu trên.
3. Vụ án đã được
giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hay chưa?
Khi khởi kiện vụ án dân
sự thì người khởi kiện cần phải xác định vụ án đó đã được giải quyết bằng một
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hay chưa, bởi lẽ, nếu cùng một quan hệ
pháp luật tranh chấp, cùng chủ thể tham gia thì Tòa án sẽ không thụ lý những vụ
án đã được giải quyết, trừ một số yêu cầu khởi kiện sau:
- Yêu
cầu ly hôn trước đây bị Tòa án bác yêu cầu, nay tiếp tục khởi kiện yêu cầu ly
hôn;
- Yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
- Yêu
cầu thay đổi mức cấp dưỡng;
- Yêu
cầu thay đổi người quản lý di sản;
- ….
4. Thẩm quyền giải
quyết
Xác định thẩm quyền giải
quyết của Tòa án trong tranh chấp dân sự cũng là một vấn đề hết sức cần thiết,
để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì người khởi kiện cần
phải nắm được những quy định sau:
4.1 Thẩm quyền chung:
Không phải mọi tranh
chấp dân sự đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mà Tòa án chỉ giải
quyết những tranh chấp dân sự (dân sự thuần túy, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thương mại, lao động …) được quy định tại các Điều 25; Điều 27; Điều 29 và Điều
31 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vì vậy khi có tranh chấp người khởi kiện cần phải
xác định tranh chấp đó thuộc loại việc nào được quy định tại Bộ luật Tố tụng
Dân sự, chỉ những tranh chấp dân sự rơi vào các điều luật đã liệt kê ở trên mới
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nói chung.
Lưu ý: Nếu như trước
ngày 01/7/2014 thì những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà một trong các bên
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có các giấy tờ theo
quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên kể từ ngày 01/7/2014 trở về sau (kể từ
thời điểm luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành) thì Tòa án có thêm thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất chưa có giấy chứng nhận và các giấy tờ thay thế
khác, khi các đương sự có yêu cầu.
4.2 Thẩm quyền theo cấp
Khi xác định được vụ
việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì người khởi kiện cần xác định
được thẩm quyền của Tòa án xét xử theo cấp là Tòa án cấp nào.
Hệ thống Tòa án nhân dân
của Việt Nam gồm: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa án
nhân dân cấp huyện.
Các tranh chấp dân sự
được quy định tại các Điều 25; Điều 27; khoản 1 Điều 29; khoản 1, Điều 31 thuộc
thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. (Trừ
trường hợp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp
cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho
Tòa án nước ngoài.)
Các tranh chấp dân sự
được quy định tại Khoản 2, Điều 29; khoản 2 Điều 31 và những tranh chấp tại
Điều 25; Điều 27; khoản 1, Điều 29, khoản 1, Điều 31 có đương sự hoặc tài sản ở
nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài, thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo thủ tục sơ thẩm.
Lưu ý: Theo quy định tại Điều 7, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP thì đương
sự ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài, Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ
quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án,
Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, được hiểu như sau:
1. Đương sự ở nước ngoài
bao gồm:
a) Đương sự là người
nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc
không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
b) Đương sự là người
Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có
mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
c) Đương sự là người
nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại
Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
d) Đương sự là người
Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại
Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
đ) Cơ quan, tổ chức
không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà
không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa
án thụ lý vụ việc dân sự.
2. Tài sản ở nước ngoài
Tài sản ở nước ngoài là
tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 ở ngoài biên
giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án
thụ lý vụ việc dân sự.
3. Cần phải uỷ thác tư
pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài,
cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Cần phải uỷ thác tư pháp
cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho
Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân
sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thể thực hiện được, cần phải yêu cầu
cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện
hoặc đề nghị Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện theo quy
định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi
có lại.
4.3 Thẩm quyền
theo lãnh thổ:
Sau khi người khởi kiện
xác định được thẩm quyền chung, thẩm quyền theo cấp thì người khởi kiện chỉ cần
xác định thêm Tòa án theo lãnh thổ là người khởi kiện có thể xác định được
chính xác Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp.
Theo quy định tại khoản
1, Điều 35 thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo lãnh thổ được xác định
như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư
trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại
các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền
tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu
nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29
và 31 của Bộ luật này;
c) Tòa án nơi có bất
động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.
4.4. Thẩm quyền theo sự
lựa chọn của nguyên đơn.
Ngoài những quy định về
thẩm quyền như trên, thì Điều 36, Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng quy định thêm
trường hợp để người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết trong một số
trường hợp cụ thể:
a) Nếu không biết nơi cư
trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị
đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải
quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức
thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có
chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có
nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng
thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình
cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt
hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm,
tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì
nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc
giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát
sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung
gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ
chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò
trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát
sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được
thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư
trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất
động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
Lưu ý: Theo kinh nghiệm của tác giả, mặc dù
Bộ luật Tố tụng Dân sự đã quy định rất rõ trường hợp nguyên đơn được quyền lựa
chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp người lao động khởi kiện
người sử dụng lao động về việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc sa
thải thì người lao động có quyền khởi kiện tại nơi cư trú của mình, nơi làm
việc hoặc nơi có trụ sở chi nhánh của doanh nghiệp mà NLĐ đã làm việc. Tuy
nhiên, khi nhận đơn khởi kiện thì với tâm lý muốn ít việc, các Tòa thường hướng
dẫn người lao động phải khởi kiện tại Tòa án nơi có trụ sở chính của doanh
nghiệp, điều này gây rất nhiều khó khăn cho người lao động (vì có nhiều trường
hợp địa chỉ trụ sở chính và chi nhánh rất xa nhau). Khi gặp những trường hợp
này thì người lao động cần biết quy định tại điểm b, điểm đ Điều 36 để yêu cầu
Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi có chi nhánh phải thụ lý, giải quyết
để thuận lợi trong quá trình tham gia tố tụng.
5. Tạm ứng án phí
và án phí
Khi quyết định khởi kiện
một tranh chấp dân sự ra Tòa để giải quyết thì một điều người khởi kiện cần
phải biết để có sự chuẩn bị trước đó là tiền tạm ứng án phí.
Hiện nay, những quy định
về án phí, tạm ứng án phí được quy định tại Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 và
được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn taij Nghị quyết số
01/2012/NQ-HĐTP, vì vậy khi khởi kiện thì người khởi kiện cần phải tìm hiểu ký
nội dung của 02 văn bản trên để có kế hoạch về tài chính cho phù hợp.
Đặc biệt, người khởi
kiện cần xem xét những trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án
phí được quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12.
Ngoài ra, nếu người khởi kiện không thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, nhưng hoàn cảnh kinh tế tại thời điểm khởi kiện có nhiều khó khăn thì có thể làm đơn yêu cầu được giảm một phần (tối đa không quá ½) tiền tạm ứng án phí, án phí.
Dưới đây là bảng mức án
phí theo quy định:
Giá trị tài sản có tranh chấp
|
Mức án phí
|
a)
từ 4.000.000 đồng trở xuống
|
200.000
đồng
|
b)
Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng
|
5%
giá trị tài sản có tranh chấp
|
c)
Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng
|
20.000.000
đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
|
d)
Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng
|
36.000.000
đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
|
đ)
Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng
|
72.000.000
đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
|
e)
Từ trên 4.000.000.000 đồng
|
112.000.000
đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000
đồng.
|
Lưu ý: Đối với người lao
động khi khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo
hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết
những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật; thì sẽ được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí. Tuy
nhiên đối với yêu cầu đòi tiền thưởng ( lương tháng 13 và thưởng theo doanh số)
thì phải đóng tiền tạm ứng án phí và phải chịu án phí đối với những yêu cầu
không được Tòa án chấp nhận, vì vậy khi khởi kiện để đòi khoản tiền thưởng thì
NLĐ cần xem xét kỷ về về căn cứ để khởi kiện, tránh trường hợp phải đóng tiền
án phí đối với yêu cầu khởi kiện không có căn cứ.
6. Chuẩn bị Đơn
khởi kiện và tài liệu kèm theo (hồ sơ khởi kiện).
Một nguyên tắc cơ bản
trong Tố tụng Dân sự là: Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn
khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện. Vì vậy,
muốn khởi kiện thì người khởi kiện phải có đơn khởi kiện để nêu lên yêu cầu khởi
kiện của mình.
Hiện nay, mẫu đơn khởi
kiện được ban hành theo mẫu số 01, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP. Tuy nhiên để
soạn thảo một đơn khởi kiện có đầy đủ nội dung và phù hợp với yêu cầu khởi kiện
thì không phải bất kỳ ai cũng có thể soạn thảo, vì vậy khi cần soạn thảo đơn
khởi kiện, người khởi kiện nên nhờ Luật sư hoặc những người có hiểu biết về
pháp luật soạn thảo, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi của mình.
Khi nộp đơn khởi kiện,
người khởi kiện cần phải nộp thêm những tài liệu đính kèm để chứng minh yêu cầu
khởi kiện của mình là có căn cứ vào hợp pháp:
Ví dụ 1: Khi nộp đơn
khởi kiện yêu cầu ly hôn thì người khởi kiện cần phải chuẩn bị tài liệu kèm
theo gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; CMND, sổ hộ khẩu của người khởi
kiện; Giấy khai sinh của các con (nếu có tranh chấp về con); Giấy chứng nhận
quyền sử dụng, quyền sở hữu các loại tài sản (nếu có tranh chấp về tài sản)…,
các tài liệu khi cung cấp cho Tòa án cần phải là bản sao cho chứng thực của cơ
quan có thẩm quyền.
Ví dụ 2: Khi nộp đơn
khởi kiện về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người lao động cần
phải nộp những tài liệu kèm theo gồm:
Hợp đồng lao động; Thông
báo chấm dứt HĐLĐ; Quyết định chấm dứt HĐLĐ hoặc các văn bản chứng minh việc
người sử dụng lao động đã chấm dứt HĐLĐ; CMND và sổ hộ khẩu của người khởi
kiện;…
Tuy nhiên, trong trường
hợp vì những lý do khách quan mà tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, người khởi
kiện chưa cung cấp được những tài liệu kèm theo thì người khởi kiện có thể bổ
sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Lưu ý: Hiện nay có một
số Tòa có thêm yêu cầu đối với người khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện cần phải
nộp kèm theo một số tài liệu sau:
1. Giấy
xác nhận nơi cư trú của bị đơn;
2. Giấy
xác nhận giá đất tại địa phương (theo giá nhà nước + giá thị trường);
3. Bản
sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp;
4. …..
Theo quan điểm của tác
giả thì những yêu cầu trên của Tòa án là không đúng quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự, tuy nhiên để thuận lợi trong quá trình giải quyết vụ án thì
người khởi kiện cũng cần xem xét về khả năng cung cấp các tài liệu nêu trên cho
Tòa án, nếu có khả năng thì người khởi kiện cần thu thập để cung cấp cho Tòa án
theo yêu cầu.
7. Nộp đơn khởi
kiện.
Sau khi hoàn tất giai
đoạn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, công việc còn lại là nộp đơn khởi kiện. Theo quy
định thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện theo hai hình thức: Nộp
trực tiếp tại trụ sở Tòa án có thẩm quyền; Nộp qua đường bưu điện. Tuy nhiên,
trên thực tế việc nộp đơn qua đương bưu điện ít được nhiều người sử dụng, bởi
lẽ khi nhận được đơn khởi kiện qua đường bưu điện thì thời gian giải quyết của
Tòa án tương đối lâu so với việc nộp trực tiếp, hoặc có thể bị thất lạc trong quá
trình gửi.
Đa phần người khởi kiện
chọn giải pháp nộp đơn trực tiếp tại Tòa án, khi nộp đơn khởi kiện trực tiếp
tại Tòa án thì người khởi kiện cần lưu ý một số trường hợp:
- Cán
bộ nhận đơn thường yêu cầu bổ sung thêm những tài liệu không phù hợp với quy
định của pháp luật:
Ví dụ: yêu cầu cung cấp
biên bản hòa giải tại xã, phường, thị trấn đối với yêu cầu ly hôn hoặc tranh
chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Yêu cầu cung cấp biên bản hòa
giải tại cơ sở đối với tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ…
- Cán
bộ nhận đơn “đẩy” sang một Tòa án khác.
Đây là trường hợp tương
đối phổ biến, nhất là trong những vụ án tranh chấp về việc đơn phương chấm dứt
HDLĐ mà người lao động làm việc tại chi nhánh có trụ sở ngoài địa bàn quận,
huyện, tỉnh so với trụ sở chính. Theo quy định của pháp luật thì trong trường
hợp này NLĐ có quyền lựa chọn Tòa án nơi có trụ sở chính của người sử dụng lao
động; Tòa án nơi có địa chỉ chi nhánh; Tòa án nơi cư trú của NLĐ; Tòa án nơi
NLĐ làm việc, tuy nhiên khi NLĐ chọn 01 trong 04 Tòa án trên thì các Tòa thường
“đẩy” cho nhau.
Khi gặp những trường hợp
này người nộp đơn cần phải yêu cầu người nhận đơn phải nhận đơn và có văn bản
yêu cầu bổ sung, hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện nêu rõ những căn cứ pháp
luật.
Ngoài ra, khi nộp đơn
trực tiếp thì có nhiều Tòa án không cấp biên nhận đơn khởi kiện cho người nộp
đơn, trong khi việc cấp biên nhận đơn (thông báo nhận đơn khởi kiện) là quy
định bắt buộc theo quy định. Vì vậy khi nộp đơn người khởi kiện cần yêu cầu cán
bộ nhận đơn cung cấp biên nhận, nhận đơn khởi kiện để làm cơ sở yêu cầu Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trên đây là những vấn đề
cơ bản, cần biết khi khởi kiện một vụ án dân sự mà tác giả muốn chia sẻ cùng
quý vị đọc giả, tác giả rất mong muốn nhận được những phản hồi từ quý bạn đọc
để hoàn thiện.
Trân trọng!
[1] Điều 162. Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước
1. Cơ quan về dân số,
gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật
Hôn nhân và gia đình quy định.
2. Công đoàn cấp trên
của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định.
3. Cơ quan, tổ chức
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để
yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực
mình phụ trách.
[2] Điều 135. Hoà giải tranh chấp đất đai
2. Tranh chấp đất đai mà
các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp
đất đai.
Thời hạn hoà giải là ba
mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được
đơn.
Kết quả hoà giải tranh
chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và
xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết
quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết theo quy định về quản lý đất đai.
[3] Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động
cá nhân của hòa giải viên lao động
1. Tranh chấp lao động
cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi
yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc
phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao
động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt
hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc
gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm y tế.
đ) Về bồi thường thiệt
hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
[4] Điều 86. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở
Nhà nước và xã hội
khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa
giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
[5] Khoản 1, Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự
[6] Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP
Rất tuyệt !
ReplyDeleteRất cám ơn chia sẽ của anh về những luật Thành lập công ty TNHH, Thủ tục thành lập công ty, Thành lập công ty Cổ phần, Quy trình thành lập công ty
ReplyDeleteKho tàng pháp luật Việt Nam:
ReplyDelete- Hỏi đáp, hỗ trợ pháp luật trong và ngoài nước
- Tra cứu văn bản pháp luật
- Hướng dẫn thủ tục hành chính
- Liên hệ để gửi yêu cầu
Pháp luật trong tầm tay bạn
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp trong thời gian sớm nhất.
Trân trọng./.
Hướng dẫn khởi vụ án tranh chấp đất đai.
ReplyDeletehttps://luattoanquoc.com/tong-dai-tu-van-luat-dat-dai-mien-phi-goi-19006178/
Rất cảm ơn tác giả. Bài viết rất chi tiết và hữu ích.
ReplyDeleteCông ty TNHH Giải pháp Kết nối Luật IURA sẽ giải đáp mọi thắc về hồ sơ và thủ tục luật tố tụng dân sự, với những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm. Liên hệ với IURA qua hotline: 028 7300 7586 hoặc đến văn phòng tại Lầu 2, 26, 28 Đường Nguyễn Gia Trí, Phường 25, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
ReplyDelete